Tag Archives: đái tháo đường

Đái tháo đường là gì và có lây được không?

Kiểm tra đường huyết

Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa mạn tính glucid, lipid và protid do nguyên nhân thiếu insulin hoặc insulin kém chất lượng, nó được xếp vào nhóm bệnh chuyển hóa.

Chuẩn đoán bệnh đái tháo đường và tiền đái tháo đường

Kiểm tra đường huyết

Đái tháo đường và tiền đái tháo đường là các rối loạn chuyển hóa được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết do hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin, hay cả hai.

Để chẩn đoán đái tháo đường cần phải đo lượng đường glucose trong máu trong một số tình trạng đặc biệt như lúc đói, chế độ dinh dưỡng có kiểm soát glucose, hay lượng thức ăn đưa vào qua các bữa ăn thường ngày. Dưới đây là 1 số xét nghiệm và tiêu chuẩn chuẩn đoán của bệnh trên:

  1. a) Chẩn đoán sớm bệnh đái tháo đường týp 2:

Đối tượng có yếu tố nguy cơ để sàng lọc bệnh đái tháo đường týp 2:

Tuổi ≥ 45 và có một trong các yếu tố nguy cơ sau đây:
– BMI ≥ 23
– Huyết áp trên 130/85 mmHg
– Trong gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường ở thế hệ cận kề (bố, mẹ, anh, chị em ruột, con ruột bị mắc bệnh đái tháo đường týp 2).
– Tiền sử được chẩn đoán mắc hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháo đường (suy giảm dung nạp đường huyết lúc đói, rối loạn dung nạp glucose).
– Phụ nữ có tiền sử thai sản đặc biệt (đái tháo đường thai kỳ, sinh con to – nặng trên 3600 gam, sảy thai tự nhiên nhiều lần, thai chết lưu).
– Người có rối loạn Lipid máu; đặc biệt khi HDL-c dưới 0,9 mmol/L và Triglycrid trên 2,2 mmol/l.

Kiểm tra đường huyết

  1. b) Chẩn đoán tiền đái tháo đường (Prediabetes).

Bạn được xác định bị :
–  Rối loạn dung nạp glucose (IGT): nếu mức glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp tăng glucose máu bằng đường uống từ 7,8-11,0 mmol/l (140-200 mg/dl).
Suy giảm glucose máu lúc đói (IFG): nếu lượng glucose huyết tương lúc đói (sau ăn 8 giờ) từ 6,1-6,9 mmol/l (110-125 mg/dl) và lượng glucose huyết tương ở thời điểm 2  giờ sau khi uống 75 g glucose  của nghiệm pháp tăng glucose máu dưới 7,8 mmol/l (< 140 mg/dl).

  1. c) Chẩn đoán xác định đái tháo đường:

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường (WHO-1999), dựa vào một trong 3 tiêu chí:
– Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (≥ 126 mg/dl).
– Mức glucose huyết tương ≥ 11 ,1 mmol/l (200 mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau khi uống 75g glucose trong nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống.
– Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl).
Những điểm cần lưu ý:
– Nếu chẩn đoán dựa vào glucose huyết tương lúc đói và/hoặc nghiệm pháp dung nạp tăng glucose máu bằng đường uống, thì phải làm 2 lần vào hai ngày khác nhau.
– Có những trường hợp được chẩn đoán là đái tháo đường nhưng lại có glucose huyết tương lúc đói bình thường. Trong những trường hợp đặc biệt này phải ghi rõ chẩn đoán bằng phương pháp nào.

Tóm lại việc trang bị kiến thức cơ bản về bệnh là điều chúng ta nên làm, nhất là đối với những bệnh nhân đái tháo đường hay người nhà của bệnh nhân. Có những hiểu biết nhất định về các chỉ số đường huyết sẽ giúp bạn dễ dàng kiểm soát bệnh và có những chiến lược thật đúng đắn để chiến đấu với căn bệnh này

                              Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường của Bộ Y Tế

Tăng huyết áp và đái tháo đường

Chế độ ăn giúp kiểm soát đường huyết

Tăng huyết áp và đái tháo đường

  1. Một số hiểu biết chung về tăng huyết áp và đái tháo đường

Tăng huyết áp (THA) và đái tháo đường(ĐTĐ) là 2 bệnh ngày càng phổ biến ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.

Nhiều nghiên cứu cho thấy hai bệnh này thường song hành cùng nhau vì chúng có cùng yếu tố nhuy ciw như: thừa cân hoặc béo phì, chế độ ăn nhiều chất béo, nhiều muối đường, lười vận động.

THA là một yếu tố làm tăng mức độ nặng của ĐTĐ và ngược lại ĐTĐ cũng làm cho THA khó điều trị hơn. Ở bệnh nhân ĐTĐ typ I, THA thường là hậu quả của biến chứng ở thận. Còn ở bệnh nhân ĐTĐ typ II, THA thường xuất hiện trước khi bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ hoặc phát triển đồng thời với ĐTĐ.

Trong nhiều trường hợp THA, bệnh nhân thường không có triệu chứng nên dễ bị bỏ qua nếu không được đo huyết áp kiểm tra. Tuy nhiên, một số trường hợp THA có thể gây ra các triệu chứng đau đầu, nhìn mờ, đau bụng hoặc đau ngực, khó thở chóng mặt hoặc buồn nôn. Chính vì các triệu chứng không rõ ràng và không đặc hiệu  như vậy nên những bệnh nhân ĐTĐ cần được kiểm tra định kì huyết áp mỗi khi thăm khám để phát hiện và điều trị kịp thời THA.

  1. Cần làm gì khi bị tăng huyết áp và đái tháo đường đồng thời?

Khi bị hai bệnh này đông thời, bạn cũng không nên quá lo lắng. Có rất nhiều biện pháp có thể giúp bạn giảm huyết áp và duy trì đường huyết ở mức quy định:

–  Bỏ hút thuốc, giảm cân

– Ăn nhiều rau củ quả và ít muối sẽ giúp bạn giảm huyết áp

– Tăng cường vận động và duy trì thường xuyên các hoạt động thể dục, thể thao

– Uống đủ thuốc điều trị cao huyết áp được bác sĩ kê

– Ngoài ra, việc uống các sản phẩm từ thiên nhiên như dây thìa canh DK sẽ giúp bạn duy trì đường huyết ổn định và hạ huyết áp tốt.

Chúc bạn có những hiểu biết mới để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình!!

Daythiacanh.com sưu tầm