Tag Archives: công dụng

Dây thìa canh có công dụng gì

Hình ảnh ngọn và hoa dây thìa canh

Bài viết sau được trích từ các tài liệu về cây thuốc cụ thể nói về thảo dược dây thìa canh có công dụng gì? và cách sử dụng như nào?

Nguồn tài liệu tham khảo có thể tìm ở từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi

Hình ảnh ngọn và hoa dây thìa canh

Tác dụng sinh học

Theo Võ Văn Chi, rễ cây dây thìa canh có tác dụng gây nôn và long đờm. Ở Trung Quốc, người ta dùng cả cây bỏ rễ và quả làm thuốc trị phong thấp tê bại, viêm mạch máu, rắn độc cắn, trĩ và các vết thương do dao, đạn; còn dùng diệt chấy rận. Lá cây và acid gymnemic không có tác dụng kháng khuẩn. Lá thường dùng trị ĐTĐ, liều 4g lá khô đủ để làm ngưng glucose niệu Thuốc có tác dụng gián tiếp lên sự tiết insulin của tụy, làm giảm glucose niệu, làm mất vị ngọt của đường, vị đắng của thuốc vẫn còn trong một vài giờ. Lá làm kích thích tim và hệ thống tuần hoàn, gây bài tiết nước tiểu. Lá cũng có tính chất nhuận tràng do có các dẫn xuất anthraquinon; còn có tính gây nôn. Lá dùng dễ làm thuốc tiêu hóa, còn dùng tán thành bột để chống độc. Ở Ấn Độ, người ta dùng đắp lên vết cắn và dùng sắc uống để trị rắn độc cắn [1].

Công dụng hạ đường huyết

Tác dụng hạ đường huyết của bột lá khô GS đã được ghi nhận trên thỏ được gây ĐTĐ thực nghiệm bằng alloxan do làm giảm hoạt tính của enzym tân tạo đường và đảo ngược quá trình biến đổi thể trạng ở gan trong suốt giai đoạn tăng đường huyết [36].

 

 

Thử nghiệm lâm sàng trên 22 bệnh nhân ĐTĐ typ II: cho uống cao GS 400mg/ ngày, trong 18-20 tháng kết hợp với thuốc trị tiểu đường. Nhóm được điều trị có sự giảm đường huyết và hemoglobin A1C đáng kể và tăng lượng insulin tiết ra từ tụy. Lượng thuốc uống trị tiểu đường cũng giảm và 5 người có thể bỏ thuốc [10].

Thí nghiệm lâm sàng trên 27 bệnh nhân ĐTĐ typ I được cho uống cao GS 400mg/ngày cùng với điều trị bằng insulin cho thấy đường máu, HbA1C, protein glycosylate plasma hạ thấp nhanh chóng và giảm lượng insulin cần dùng. Hơn nữa lipid máu giảm về gần mức bình thường [37].

Trong một thử nghiệm lâm sàng khác, dịch chiết nước GS được cho 10 người khỏe mạnh sử dụng với liều 2g x 3 lần/ngày trong 10 ngày và 6 bệnh nhân tiểu đường sử dụng trong 15 ngày. Kết quả thử OGTT cho thấy mức glucose giảm có ý nghĩa trong tất cả các nhóm trừ nhóm người khỏe mạnh [22].

Tác dụng làm mất đi cảm giác ngọt

Tác dụng của hỗn hợp acid Gymnemic

Hỗn hợp acid Gymnemic có tác dụng ức chế rất mạnh cảm giác ngọt ở người và tinh tinh nhưng lại không có tác dụng ức chế đối với các loài động vật thí nghiệm bao gồm cả động vật gặm nhấm.

 

Về mặt sinh học, hai chất ức chế cảm giác ngọt này đóng vai trò như một chức năng bảo vệ, giúp cây chống lại các loài sâu bọ gây hại và nhiều loại động vật có vú do làm mất cảm giác ngon ở các loài này.

Tác dụng hạ lipid máu

Dịch chiết Dây thìa canh có tác động lên chuyển hóa lipid, làm giảm có ý nghĩa các chất béo tiêu hóa được, làm tăng bài tiết các Sterol trung tính và Sterol acid qua phân, ngoài ra còn làm giảm tổng lượng Cholesterol toàn phần và mức Triglycerid trong huyết tương

Nguồn tổng hợp

 

Công dụng cây dây thìa canh

Ảnh công nhân thu hái dây thìa canh tại vùng trồng Thái Nguyên đạt chuẩn GACP

Công dụng cây dây thìa canh giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường rất hiệu quả, làm mất đi cảm giác ngọt. Hỗ trợ điều trị mỡ máu cao, hạ mỡ máu, gan nhiễm mỡ.

Dây thìa canh thuộc loại dây leo, cao từ 3-5 m. Thân non màu xanh, phủ lông mịn; thân già màu nâu, có lỗ vỏ, đường kính lỗ vỏ từ 0,5-1 mm. Toàn cây có nhựa mủ màu trắng hay hơi vàng. Lá mọc đối. Cuống dài 3-5 mm; đường kính 2-3mm; phiến hình bầu dục, trứng hay trứng ngược, dài 6-7cm, rộng 2,5-5cm, gốc thuôn, mép nguyên, ngọn nhọn; có 4-6 cặp gân phụ, rõ ở mặt dưới.

Ảnh công nhân thu hái dây thìa canh tại vùng trồng Thái Nguyên đạt chuẩn GACP

Hoa nhỏ màu trắng hơi vàng, xếp thành xim dạng tán ở nách lá, dài 8mm, rộng 12-15mm. Đài chia 5, các thuỳ dài 1mm, có lông mịn và rìa lông. Tràng 5, dính nhau thành ống, dài 1,8-2 mm, mặt ngoài nhẵn; tràng phụ gắn với tràng, có 5 răng, dính với họng tràng. Cột nhị nhụy hình trụ, dài khoảng 1,5mm, rộng 0,8-1mm. Bộ nhị có bao phấn ngắn; khối phấn gồm hai thùy, dài khoảng 0,2mm, liên kết với nhau nhờ trung đới màu vàng nâu. Bộ nhụy có vòi với đầu rộng hình nón, vượt quá bao phấn. Quả đại dài 5-6cm, rộng ở dưới, đường kính chỗ lớn nhất khoảng 1,5cm. Hạt dẹp, dài 3mm, có mào lông  màu trắng, dài khoảng 3-3,5cm, thường có khoảng 40 hạt trong một quả.

Phân bố: Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia. Ở nước ta có trồng ở Thái Nguyên.

Thu hái: Thường mọc các bờ bụi, hàng rào. Cây ra hoa tháng 7, có quả tháng 8.

Thành phần hóa học:
Cây chứa một chất glucosid là acid gymnemic, rất gần với acid chrysophanic nhưng khác về một số tính chất. Lá chứa những hợp chất hữu cơ, 2 hydratcarbon, chlorophyll a và b, phytol, nhựa, acid tartric, inositol, các hợp chất anthraquinolic và acid gymnemic.

Ngoài ra, cây còn có 2 resin (một tan trong rượu), saponin, stigmasterol, quercitol, các dẫn xuất acid amin betain, choline và trimethylamine.

Công năng: Rễ cây có tác dụng gây nôn và long đờm, trị phong thấp tê bại. Lá có tác dụng hạ đường huyết.

Công dụng: 
Rễ sử dụng trong trường hợp viêm mạch máu, rắn độc cắn, trĩ và các vết thương do dao, đạn; còn dùng diệt chấy rận.
Lá thường dùng hỗ trợ điều trị đái tháo đường, liều 4g lá khô đủ để làm ngưng glucose niệu Thuốc có tác dụng gián tiếp lên sự tiết insulin của tụy, làm giảm glucose niệu, làm mất vị ngọt của đường, vị đắng củathuốc vẫn còn trong một vài giờ. Lá làm kích thích timvà hệ thống tuần hoàn, gây bài tiết nước tiểu. Lá cũng có tính chất nhuận tràng do có các dẫn xuất anthraquinon; còn có tính gây nôn. Lá dùng dễ làm thuốc tiêu hóa, còn dùng tán thành bột để chống độc.