Category Archives: Biến chứng

Biến chứng nguy hiểm của bệnh tiểu đương tuýp 1

Biến chứng tiểu đường tuýp 1

Tiểu đường tuýp 1 còn gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin hay tiểu đường ở người trẻ. Trong bệnh tiểu đường type 1, là do cơ chế tự miễn, tức tuyến tụy bị tấn công và phá hủy bởi chính cơ thể, làm cho tuyến tụy không còn khả năng sản xuất insulin nữa.

Tiểu đường type 1 có xu hướng xảy ra ở người trẻ, thường dưới 30 tuổi. Tuy nhiên ở bệnh nhân trẻ còn có dạng tiểu đường do cơ hội. Tiểu đường type 1 chiếm khoảng 10%, còn tiểu đường type 2 chiếm 90%.

Đường huyết thấp còn được gọi là hạ đường huyết. Nó có thể xảy ra do tiêm quá nhiều insulin, tập thể dục quá nhiều, hoặc ăn quá ít thức ăn. Hạ đường huyết thường gặp ở bệnh nhân Đái tháo đường type 1 đang điều trị.

Triệu chứng thường xuất hiện khi lượng đường trong máu giảm dưới 70mg/dl .

Biến chứng tiểu đường tuýp 1

Ảnh minh họa

Triệu chứng bệnh tiểu đường tuýp 1:

  • Nhức đầu
  • Đói
  • Căng thẳng
  • Run tay
  • Đổ mồ hôi
  • Yếu mệt
  • Nhìn mờ

Nếu những triệu chứng này xảy bạn nên kiểm tra lượng đường trong máu.

Nếu đường huyết thấp, ăn uống những thức ăn chứa đường: nước trái cây, vài muỗng đường, một ly sữa  hoặc nước ngọt.

Sau khi các triệu chứng hết, bạn nên  ăn thêm thức ăn khác.
Nếu bị hạ đường huyết nặng hơn nên được điều trị tại bệnh viện

Cần chỉnh liều insulin thích hợp để tránh hạ đường huyết thường xuyên

Nhiễm ketone máu ở người bệnh

Nếu đái tháo đường type 1 không được điều trị rất dễ xảy ra biến chứng hôn mê do nhiễm ceton acid

Khi không có đủ insulin để đưa glucose vào tế bào, glucose có thể tăng cao trong máu. Khi đó, cơ thể tìm các hình thức khác để tạo năng lượng và sử dụng chất béo như là một nguồn nhiên liệu. Mỡ sẽ bị phân hủy để tạo năng lượng và quá trình này sẽ tạo ra nhiều acetone acid , ketone tăng trong máu và nước tiểu. Gây ra nhiễm cetone acid ( ketoacidosis.)

Các triệu chứng cảnh báo nhiễm  cetone acid ,bao gồm:

  • Thở nhanh, sâu
  • Da và miệng khô
  • Bừng mặt
  • Hơi thở có mùi trái cây
  • Buồn nôn hay nôn mửa
  • Đau dạ dày

Nếu những triệu chứng này xảy ra, gọi cho bác sĩ hay đi đến phòng cấp cứu ngay lập tức. Nếu không được điều trị , tình trạng này sẽ dẫn đến hôn mê và thậm chí tử vong.

Các biến chứng Đái tháo đường type 1 khác

Bao gồm:

  • Hạ đường huyết
  • Nhiễm cetone acid
  • Rối loạn cương dương
  • Biến chứng ở mắt: bệnh võng mạc do đái tháo đường, bong võng mạc, Glaucoma, và đuc thủy tinh thể.
  • Biến chứng ở chân
  • Nhiễm trùng của da,tiết niệu và sinh dục ở nữ
  • Bệnh thận (bệnh tiểu đường nephropathy)
  • Biến chứng thần kinh do đái tháo đường
  • Tai biến mạch máu não
  • Bệnh mạch máu, bao gồm thuyên tắc mạch và đột quị

Nguồn tổng hợp

 

Những biến chứng nguy hiểm bệnh tiểu đường và cách phòng tránh

Ảnh khám mắt của bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường

Hoa mắt, tăng huyết áp, giảm thị lực…và nhiều những biến chứng nguy hiểm khác ở những người mắc bệnh tiểu đường. Do đó, người bệnh tiểu đường cần có những biện pháp phòng tránh giữ đường huyết ổn định để không gây ra biến chứng.

Các biến chứng bệnh tiểu đường:

– Hạ đường huyết: Là biến chứng cấp tính,thường gặp ở những bệnh nhân dùng thuốc đái tháo đường quá liều hoặc dùng thuốc cho bệnh nhân lúc đói, bỏ bữa. Dấu hiệu chính là vã mồ hôi, choáng váng, hoa mắt,lơ mơ, co giật hoặc hôn mê.

Ảnh khám mắt của bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường

– Các biến chứng mạch máu lớn: Đây là nguyên nhân gây tử vong chính ở bệnh nhân Đái tháo đường, đặc biệt là typ 2. Bao gồm các bệnh về xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim,tăng huyết áp, rối loạn lipid máu…

– Các biến chứng mạch máu nhỏ:Là các tổn thương chủ yếu ở các mao mạch và các tiểu động mạch tiền mao mạch, cuối cùng hậu quả là: giảm thị lực,đục thủy tinh thể, xơ tiểu cầu thận, suy thận, viêm đa dây thần kinh,…

Ngoài ra ở bệnh nhân tiểu đường cũng có thể gặp  các biến chứng như: Nhiễm trùng (viêm răng lợi, viêm ống tai ngoài, viêm hoại tử ở chi, nấm da, niêm mạc,..); tổn thương khớp (khô , cứng khớp); Loét bàn chân và cẳng chân . Khi ổ loét có thêm nhiễm trùng, nó có thể không lành được và dẫn đến cắt cụt chi.

Làm thế nào để phòng tránh các biến chứng tiểu đường:

Để phòng tránh được các biến chứng tiểu đường quan trọng nhất vẫn là việc kiểm soát đường huyết tốt. Ngoài ra nên phối hợp với chế độ ăn uống, tập luyện và dùng thuốc hợp lý. Y học cổ truyền với nguồn dược liệu phong phú có nhiều vị thuốc tác dụng tốt giúp hạ đường huyết, ổn định đường huyết từ đó giảm tỷ lệ biến chứng đái tháo đường. Bệnh nhân sẽ sử dụng các vị thuốc kèm theo chế độ ăn và tập luyện, giúp bệnh nhân có thể sống vui sống khỏe. Các dược liệu được biết đến bao gồm: mướp đắng, dây thìa canh, dừa cạn, hoài sơn,…

Dây thìa canh – Dược liệu vàng cho bệnh nhân tiểu đường

PGS.TS Trần Văn Ơn tại nhà sấy dây thìa canh

Thu hái dây thìa canh tại Công ty CP SP Thiên Nhiên DK

Dây thìa canh là một loại cây dây leo, được sử dụng tại Ấn Độ, Trung Quốc hơn 2000 năm nay để trị bệnh nước tiểu ngọt như mật. Dây thìa canh đang được sử dụng tại Ấn Độ với tên Diabeticin, Mỹ với tên Sugarest, Nhật Bản với tên Gymnema, Singapore với tên Glucoscare. Hoạt chất chính trong Dây thìa canh là gymnemic acid, với cơ chế tác dụng đã được xác định là tăng tiết insulin của tuyến tuỵ, tăng cường hoạt lực của insulin, ức chế hấp thu glucose ở ruột, làm tăng hoạt tính của men hấp thu và sử dụng đường, giảm cholesterol máu.

Đến nay đã có khoảng 70 nghiên cứu về Dây thìa canh trên thế giới. Tại Việt Nam, từ năm 2006 các nhà khoa học Trường ĐH Dược Hà Nội đã phát hiện Dây thìa canh tại một số tỉnh Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập mẫu, phân loại, nghiên cứu sinh hoá, lâm sàng, tổ chức nuôi trồng để tạo nguồn dược liệu sạch, lâu dài với chất lượng ổn định. Nghiên cứu bước đầu cho thấy Dây thìa canh tại Việt Nam có tác dụng hạ đường huyết rõ rệt (Nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Dược học – Bộ Y Tế số 391 tháng 11/2008).

Việc tìm thấy và nghiên cứu Dây thìa canh minh chứng cho tiềm năng phong phú của dược liệu Việt Nam, mở ra triển vọng sử dụng các sản phẩm từ thảo dược để phòng biến chứng, hỗ trợ điều trị hiệu quả bệnh tiểu đường, giúp người bệnh tiểu đường có cuộc sống khoẻ mạnh hơn.

Sản phẩm dây thìa canh DK có quy trình trồng và thu hái theo tiểu chuẩn GACP (Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc) của tổ chức y tế thế giới WHO, với quá trình bảo quản chuyên nghiệp,đảm bảo chất lượng tốt đến tận tay người tiêu dùng.

Các biến chứng ở mắt của bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường

Ảnh khám mắt của bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường

Các biến chứng ở mắt của bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường đó là cườm khô (đục thủy tinh thể), cườm nước (glaucome) và bệnh võng mạc tiểu đường

Bệnh võng mạc tiểu đường là bệnh thường gặp nhất là nguyên nhân hàng đầu gây mù và làm giảm chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường.

Bệnh võng mạc là gì? Cơ chế và triệu chứng của bệnh võng mạc đái tháo đường?

Ảnh khám mắt của bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường

Bệnh võng mạc tiểu đường là bệnh có tổn thương ở võng mạc do bệnh đái tháo đường gây ra. Trên thế giới, bệnh võng mạc tiểu đường chiếm 90% những người bị tiểu đường trên 10 năm. Ở Việt Nam hiện chưa có số liệu thống kê cụ thể cho biết chính xác số lượng người mắc bệnh này. Tuy nhiên với số lượng bệnh nhân đái tháo đường đang ngày càng gia tăng thì số lượng người bị biến chứng ở mắt chiếm số lượng không nhỏ.

Đường máu cao gây tổn thương, phá hủy thành các mao mạch ở đáy mắt, ảnh hưởng đến tình thấm các mao mạch này, hậu quả là dịch từ trong lòng mạch thoát ra ngoài gây xuất huyết và phù nề. Nếu gây phù ở hoàng điểm thì có thể làm giảm thị lực rất nhiều. Bản thân các mao mạch bị phá hủy và bị tắc gây thiếu máu ở võng mạc, khi đó cơ thể sẽ có phản ứng sinh ra một số yếu tố kích thích sự hình thành các mao mạch mới phát triển mạnh cả vào hậu phòng (khoang chứa dịch kính). Các mạch máu mới này rất dễ vỡ và thường gây xuất huyết nặng từ giai đoạn sớm làm đục dịch kính. Các mạch máu mới cũng gây ra các vết sẹo xơ ở võng mạc và trong quá trình liền sẹo nó có thể co rút gây ra bong võng mạc làm mất thị lực vĩnh viễn. Hậu quả của phù hoàng điểm, đục dịch kính, bong võng mạc… là mắt bị giảm hoặc mất khả năng thu nhận các tín hiệu ánh sáng, biểu hiện lâm sàng là giảm thị lực hoặc mất thị lực hoàn toàn.

Tùy thuộc vào mức độ tổn thương các mạch máu ở võng mạc mà người ta chia bệnh võng mạc ở BN ĐTĐ làm 2 giai đoạn sớm là bệnh võng mạc không tăng sinh (chưa có các mạch máu mới) và muộn là bệnh võng mạc tăng sinh (đã có các mao mạch mới). Điều đặc biệt nguy hiểm là đa số các BN ĐTĐ không thấy có bất cứ triệu chứng gì về mắt cho đến khi đột nhiên bị mất thị lực. Khi đó dù có được điều trị rất tích cực và tốn kém thì khả năng bảo tồn được thị lực là rất nhỏ, phần lớn các BN sẽ bị mù vĩnh viễn. Chính vì vậy các BN ĐTĐ cần đi khám mắt định kỳ, tốt nhất là 6 tháng 1 lần và được khám bởi bác sĩ chuyên khoa mắt.

Điều trị

Trong thời gian gần đây đã có nhiều tiến bộ lớn trong điều trị bệnh võng mạc do ĐTĐ. Nếu chỉ có bệnh võng mạc không tăng sinh đơn thuần thì không cần điều trị gì đặc hiệu ngoài việc phải kiểm soát tốt đường máu và huyết áp và theo dõi thường xuyên tiến triển của bệnh võng mạc. Điều may mắn là điều trị ở giai đoạn này thường có kết quả tốt và đôi khi có thể phục hồi được thị lực cho người bệnh. Nếu không có điều kiện theo dõi hoặc khi BN có thêm những yếu tố nguy cơ khác như suy thận hoặc tăng huyết áp thì có thể chủ động điều trị laser nhằm hàn lại các chỗ thành mạch bị rò rỉ, hạn chế hiện tượng phù và xuất huyết, chặn đứng sự lan rộng của tổn thương.

Với bệnh võng mạc tăng sinh: Phương pháp điều trị laser diệt bớt các tân mạch ở những BN có bệnh võng mạc tăng sinh, hạn chế nguy cơ các mạch máu này bị vỡ có thể phòng được mù lòa. Một hướng khác của điều trị laser là gây ra các vết sẹo nhỏ ở vùng thiếu máu để ngăn ngừa không cho các tân mạch xuất hiện và phát triển thêm. Điều trị laser có thể chỉ tập trung vào vùng hoàng điểm bị phù hoặc toàn bộ võng mạc và theo nhiều nghiên cứu, phát hiện bệnh võng mạc càng sớm thì điều trị càng có hiệu quả.

Với những BN đã có bong võng mạc hoặc xuất huyết rất nhiều thì điều trị laser không có hiệu quả, khi đó cần phẫu thuật cắt thủy tinh thể để giải phóng các sẹo hoặc dịch đục trong mắt. Phẫu thuật càng sớm bởi các bác sĩ chuyên khoa thì kết quả sẽ tốt hơn. Ngày nay có thể tiến hành gắn lại võng mạc nhưng thủ thuật này rất khó và chỉ có thể tiến hành được ở khoảng một nửa số BN bị bong võng mạc.

Thiên đầu thống (Glaucoma):

Các BN ĐTĐ có nguy cơ bị thiên đầu thống cao gấp 1,4 lần người bình thường, nguy cơ này sẽ tăng lên ở những BN tuổi cao và có thời gian bị bệnh ĐTĐ dài. Thiên đầu thống một hoặc cả hai mắt xảy ra khi áp lực trong mắt tăng lên và trong phần lớn các trường hợp, dịch kính sẽ bị thoát ra ngoài. Áp lực cao sẽ chèn ép vào các mạch máu nuôi võng mạc và dây thần kinh thị giác (dây thần kinh số I), hậu quả là vùng võng mạc và dây thần kinh bị phá hủy gây mất thị lực. Các BN bị thiên đầu thống thường có triệu chứng đau đầu nhiều, đặc biệt đau dữ dội hốc mắt, đo nhãn áp thường rất cao.

Để điều trị thiên đầu thống cần phải phẫu thuật làm giảm áp lực trong mắt, một số trường hợp phải mổ cấp cứu. Tuy một số thuốc cũng có tác dụng làm giảm áp lực trong mắt nhưng chỉ nên dùng để điều trị tạm thời trong khi chờ phẫu thuật.

Đục thủy tinh thể là bệnh có thể gặp nhiều ở những người không bị ĐTĐ, nhất là ở những người cao tuổi. Tuy nhiên người bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị đục thủy tinh thể cao hơn 1,6 lần và đục thủy tinh thể xuất hiện ở lứa tuổi trẻ hơn. Đôi khi đục thủy tinh thể xuất hiện ở các BN ĐTĐ týp 1 trẻ tuổi và tiến triển rất nhanh, thường là sau một giai đoạn kiểm soát đường máu kém.Đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể nặng sẽ ngăn cản ánh sáng đi qua, gây giảm thị lực, đồng thời cũng gây khó khăn cho việc khám và phát hiện bệnh võng mạc ở các BN ĐTĐ vì rất khó có thể quan sát được đáy mắt và hậu phòng.

Trường hợp bị đục thủy tinh thể nhẹ thì có thể chỉ cần đeo kính râm thường xuyên khi đi nắng là đủ, ngoài ra có thể nhỏ mắt các loại thuốc có tác dụng hạn chế tiến triển của đục thủy tinh thể như Catastat. Nếu đục thủy tinh thể nặng, có ảnh hưởng nhiều đến thị lực thì cần phải mổ thay thủy tinh thể. Lưu ý là ở một số BN mổ thay thủy tinh thể không cải thiện được thị lực do BN có đồng thời cả bệnh võng mạc nặng.

Các biến chứng ở mắt khi bị mắc bệnh tiểu đường rất nguy hiểm nếu không phát hiện và điều trị sớm bị nặng sẽ gây mù lòa ảnh hưởng tới cuộc sống

Người mắc bệnh tiểu đường cần phải được điều trị  để giữ đường huyết ổn định, huyết áp, mỡ trong máu trong giới hạn bình thường, giảm và tiến tới ngưng hút thuốc lá, rượu bia, nên tập thể dục thường xuyên

Bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường cần quan tâm nhiều hơn đến đôi mắt của mình bằng cách đi khám bác sĩ chuyên khoa để phát hiện và điều trị bệnh sớm, phòng tránh mù lòa.

Nguồn tổng hợp